May 12

Admin thông báo cho tất cả các thành viên CLB Tin học 07 là trang thông tin của chúng ta đã chuyển về  trang  http://itclub07.plus.vn/ , các bạn vào trang này để post bài. Chú ý là hiện tại account của các bạn tại trang này đã chuyển sang trang mới với tên đăng nhập vẫn không đổi còn pass đã thay đổi, ácc bạn check mail để biết password nha ! Và một chú ý là account của các bạn hiện tạo chỉ có thể đăng nhập vào trang blog còn trang web chính vấn chưa kích hoạt được. Cảm ơn các bạn !

May 08

itgatevn 0002349.jpgMicrosoft yêu mã nguồn mở

1. Silverlight runtime và ngôn ngữ scripting từ khi nó mới bắt đầu

Vào tuần trước tại hội thảo Mix07 là một cuộc hội thảo của mã nguồn mở, Microsoft nói về ngôn ngữ mới đầy sức mạnh của họ là IronRuby và Dynamic Language Runtime (DLR) nó sẽ được đưa ra dưới Microsoft BSD-style Permissive License, nó cho phép người dùng thay đổi và cung cấp mã. Với mục đích chính là thêm nền tảng “dynamic language” vào các chương trình .Net (DLR làm việc với .Net’s CLR) và điều này mang lại cho các nhà phát triển, triển khai các ngôn ngữ khác nhau của DLR, Microsoft tạo ra IronPython dưới Permissive License.

2. Sự thoả thuận với các nhà cung cấp mã nguồn mở.

Kết hợp những phong cách khác nhau như với SugarCRM và JBOSS thể hiện Microsoft hiểu được những thanh phần không phải Windows nhưng sẽ được tích hợp vào các phiên bản Windows Server nhằm nâng cao độ tin cậy và tính ổn định cho hệ thống. Microsoft đã làm việc với nhiều hãng cung cấp giải pháp nguồn mở để có được những điều này. Cũng trong các bản thoả thuận như với XenSource và MySQL, một ứng dụng cơ sở dữ liệu, điều này chứng tỏ Microsoft có sự hiểu biết và muốn tích hợp những công nghệ ngoài luồng vào các công nghệ của họ. Một ví dụ tương tự như động thái gần đây nhất là Microsoft đã có biên bản thoả thuận với Novell một nhà cung cấp Linux.

3. Cổng 25

Vào tháng 8 năm 2006, Microsoft đã đưa ra cổng 25 (port 25), một trang web được cung cấp trong Microsoft’s Open Source Lab, nó được chỉ đạo bởi Bill Hilf, một nhà phát triển Linux cho IBM. Một blog đã đưa ra một bản báo cáo về trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, phân tích, và tích hợp các công nghệ của Linux tại Microsoft.

4. Codeplex

Năm trước mã nguồn mở có dự án hosting trang Web bởi Mirosoft đã thuê người chia sẽ dự án phát triển này. Một thông tin mới về một phần của Visual FoxPro được post trên Codeplex. Một phiên bản mới của trang Web thêm vào những tính năng như cập nhật.

5. Identity

Đèn Led phát minh bởi kim Cameron, Microsoft thì giống hệt như nhà kiến trúc sư, Microsoft đã giúp cho sự trưởng thành của một tổ chức, mã nguồn mở phát triển và chia sẽ với nhau kết hợp các công nghệ để làm đối trọng với Microsoft, nhưng sự cạnh tranh đã ngày càng khiến cho Microsoft có những sản phẩm hoàn hảo hơn. Trong một cuộc hội thảo về mã nguồn mở, Microsoft đã khảng định với các nhà phát triển rằng họ đang sử dụng miễn phí tới 35 giao thức cho dịch vụ Web được Microsoft phát triển.

Microsoft ghét mã nguồn mở

1. Open Document Format (ODF)

Microsoft luôn làm việc để kiếm tiền và các định dạng file sẽ vẫn dùng được khi người dùng nâng cấp các phiên bản Office cho các năm tiếp theo. Với chính phủ và các tổ chức khác lại chọn Open File Format, Microsoft đã làm việc với định dạng OpenXML (đây là một định dạng mặc định trong Office 2007) và được biết tương tự như định dạng ODF. Đã có nhiều cuộc tranh luận nổ ra xoay quanh việc đánh giá định dạng nào tốt hơn định dạng nào.

2. Chỉ 3 đô la cho gói phần mềm tại nước ngoài

Với Linux và tổ chức mã nguồn mở luôn là một mối đe doạ lớn cho ngành thương mại, Microsoft buộc phải làm việc và đưa ra các phiên bản rẻ tiền để lấy thị phần người tiêu dùng như Windows XP Starter Edition, Office Home and Student 2007, Windows Live Mail và nhiều ứng dụng khác.

Chủ tịch của Microsof là Bill Gates nói Microsoft đã làm việc với chính phủ của các quốc gia để nhằm giảm giá máy tính cho sinh viên bao gồm cả phần mềm.

3. Thoả thuận bằng sáng chế với Novell

Trong khoảng thời gian cuối năm ngoái Novell đã có sự tán dương khi cung cấp các sản phẩm của họ. Một phần trong bản thoả thuận là bảo vệ khách hàng từ luật sở hữu trí tuệ, một bản giao kèo cho khác hàng, một phần chính trong Linux và tổ chức mã ngồn mở cho nhiều vấn đề chống lại việc Microsoft khi mua lại các hãng mã nguồn mở và đương nhiên được tích hợp các công nghệ từ các hãng đó.

4. Tấn công từ GNU General Public License (GPL) 3.0

Microsoft đã có một thời gian dài hỗ trợ và làm việc với tổ chức Association for Competitive Technology, đó là một tổ chức đã mang lại gánh nặng cho Microsoft, một tổ chức tương tự bên phía mã ngồn mở với tên gọi GPL. Richard Stallman một nhà lãnh đạo của Free Software Foundation với tên gọi GPL 3.0 trong khoảng thời gian gần đây đã đư ra bản phác thảo để ngăn cấm một bằng sáng chế về IP trong thoả hiệp giữa Novell và Microsoft.

5. Digital Rights Management (DRM)

Microsoft’s DRM không sung khắc với công cụ của Linux và mã nguồn mở, khi người dùng có thể sử dụng mã nguồn của văn bản của các chương trình giải trí khi làm việc với DRM Controls. Microsoft đã khoá khả năng DRM, do đó người dùng không phải là Microsoft sẽ không thể nào sử dụng giải pháp khác để giải mã, và hai công cụ với cùng một tác dụng nhưng lại hoàn toàn không tương thích được với nhau.

May 04

Tham khảo từ http://www.howtoforge.com/mac4lin_make_linux_look_like_a_mac

Bạn muốn thay đổi toàn bộ giao diện mặc định của Ubuntu thành Mac OS X, Leopard 10.5 là phiên bản mới nhất để bạn chiêm ngưỡng?

Nào cùng nhau thực hiện…..

Mục đích của kế hoạch này mang lại cho bạn một cảm giác và cái nhình mới mẻ về Mac OS X trên các hệ điều hành trên nền *nix GTK. Tài liệu này sẽ phục hướng dẫn bạn toàn bộ những thao tác để cài đặt Mac4Lin để mang lại một cái nhìn tốt nhất về Mac OS X.

NOTE: Backup tất cả những dữ liệu của bạn trước khi xoá/thay thế những files nguồn. Không ai có thể đảm bảo cho bạn cho tất cả những dữ liệu mà bạn mất nếu xảy ra trong suốt quá trình cài đặt.

Bạn Download tất cả những file Mac4Lin .tar.gz với phiên bản mới nhất & bao gồm những file có liên quan sau đó axtract tất cả những file trong cùng một folder. download

1 Applying GTK Metacity Theme

GNOME 2.20

Chuyển đến System > Preferences > Appearance. Click Install. Chọn đường dẫn và chọn Mac4Lin GTK Metacity Theme .tar.gz file (nơi bạn extract).

Sau khi install bạn confirm lại ‘Apply new theme’.

GNOME 2.18

Chọn System > Preferences > Theme > Customize > Control. Click Install. Chọn đường dẫn và chọn Mac4Lin GTK Metacity Theme .tar.gz file (nơi bạn extract extracted). Chọn Apply.

Bạn cũng nên chắc rằng Window border cũng được thiết lâp cho Mac4Lin theme. Click vào Window border and chọn Mac4Lin GTK theme.

For both GNOME 2.18 & 2.20

Để thiết lập Leopard panel background bạn right click lên vùng trống của khu vực panel ở thanh panel phía trên và chọn Properties. Sau đó chọn Background tab and click lên Background image button. dẩn đến /home/<user name>/.themes/<Mac4Lin GTK theme folder>/gtk-2.0/Panel and chọn image bạn thích.

Hướng dẫn sau đây dành cho những người không dùng Emerald theme manager:

Để chuyển đổi traffic lights (close,min,max buttons) sang bên trái của thanh title bar, bạn vào terminal windows and type: gconf-editor

và nhấn Enter. Chọn đường dẫn: apps>metacity>general. Ở gốc phải bạn double click ‘button_layout’. Xoá dòng chữ có sẵn và type lại: ‘close,minimize,maxmize:menu’ (không có dấu nháy). Nhấn OK và thoát ra. Những buttons sẽ chuyển sang góc phải của title bar.

Để chuyển lại định dạng ban đầu bạn trở vào và replace bằng ‘menu:minimize,maximize,close’.

2 Applying GTK Icon Theme

GNOME 2.20

Vào System > Preferences > Appearance. Click Install. Chọn đường dẫn và chọn Mac4Lin Icon Theme .tar.gz file (nơi bạn extract). Chắc rằng bạn chọn đúng phiên bản GNOME 2.20 ONLY.

Confirm click on ‘Apply new theme’.

GNOME 2.18

Chọn System > Preferences > Theme > Customize > Icons. Click Install. Chọn Mac4Lin GTK Icon Theme .tar.gz file (nơi bạn extract). Chọn Apply.

For both GNOME 2.18 & 2.20

Bạn có thể add thêm applets “Search for files..” and “Network Monitor” cho GNOME Panel. Right click lên panel và chọn “Add to panel”, bắt đầu add “Search for files” applet và “Network Monitor” Applet.

3. Emerald Theme For Beryl & Compiz

Bạn cần install thêm Beryl/Compiz and Emerald theme manager. Nếu chưa có Emerald theme manager bạn vào terminal và type: $ sudo apt-get install emerald, sau đó chọn : Goto System > Preferences > Emerald Theme Manager. Click ‘Import…’ button. Và chọn đường dẫn và chọn folder ở nơi bạn extract và chọn .emerald file từ Emerald folder. Click ‘Open’. Và chọn Mac4Lin Emerald theme để apply.

4 Applying Cursors

GNOME 2.20

Chọn System > Preferences > Appearance. Click Install. Chọn đường dẫn và chọn Mac4Lin Cursor Theme .tar.gz file (nơi bạn extract).

Confirm click on ‘Apply new theme’.

GNOME 2.18

Để install, chọn System > Preferences > Theme > Customize > Icons. Click Install. Chọn Mac4Lin Cursors Theme .tar.gz file nơi bạn extract. Thấy được rằng OS X Cursors đã được add ở icons phía dưới. Đừng vội chọn nó. Đóng lại như screenshot:

Để apply, vào System > Preferences > Mouse > Pointers Tab, chọn OSX_Cursors sau đó click Apply. Restart X (Log off and Log back in) để thấy được sự thay đổi.

5 GDM/Login Window Theme

Vào System > Administration > Login Window > Local Tab. Bạn add thêm file GDM themes bằng cách click Add và chọn themes.

Sau khi add, bạn chọn apply để hoàn tất thủ tục:

Screenshot của GDM theme:

6 GTK Splash

Để Apply splash screen cách dễ nhất là bạn dùng GtweakUI. Install gói đó cho distro của bạn đang dùng bạn có thể truy cập trang Web để biết thêm thông tin. Homepage: http://sourceforge.net/projects/gtweakui

Cho Debian distro (Ubuntu..), trong terminal window type: sudo apt-get install gtweakui

Sau khi install, copy tất cả những splash images files từ đường dẫn /GTK Splash đến /usr/share/pixmaps/splash/ theo quyền root. (Bạn có thể vào terminal gõ: sudo nautilus để truy nhập bằng quyền của root.)

Chọn System > Preferences > gtweakui-session. Click lên image. Chon file mà bạn muốn set cho splash

7 Usplash Screen (Boot splash) // Phần này mình thấy không quá cần thiết nên không trình bài ở đây nếu có yêu cầu thì comment cho mình

8 Fonts

Đây là phần tuỳ chọn. Bạn chỉ thực hiện khi không cảm thấy hài lòng với font mặc định của hệ thống. Bằng quyền root ($ sudo nautilus), mở nautilus window và gõ “fonts:///” trên location bar. và copy tất cả .ttf files ở đó. Mở lại terminal và gõ: fc-cache -f -v

Restart và bạn có thể dùng OSX fonts. Để install thêm những font khác bạn có thể làm theo hướng dẫn sau. Hướng dẫn này được lấy từ Ubuntuforums.org

**********************************************************************************************************

Install the Microsoft fonts. You have 2 ways of doing so: 1.Either download the fonts into your home directory and install them on your system: sudo tar xvjpf msfonts.tbz -C /usr/share/fonts/truetype/

Or, enable non-free, universe and multiverse repositories and install the Microsoft fonts: sudo apt-get install msttcorefonts

You now have the Microsoft fonts installed. Let’s configure your system now. Download the xml files and extract the file into /etc/fonts/ as root: sudo tar xvjpf fontconfig.tbz -C /etc/fonts/ Log out from Ubuntu and relog in. Here’s how your desktop will look, like the screenshot.

Take a backup of /etc/fonts folder and whatever you modify here first, in case you may want to revert.

**********************************************************************************************************

9 Grub Splash // mình cũng sẽ không hướng dẫn phần này vì cũng thấy không quá cần thiết ^^

10 Docks

10.1 Avant-Window-Navigator

Avant Window Navigator Install Instructions

Các bạn có thể download AWN 0.2.6 đã compile cho GUTSY tại http://getdeb.net/release.php?id=2311

4) Install Affinity. đây là yêu cầu cho tracker hoạt động. Bạn install first: Type in terminal: $ sudo apt-get install tracker

Sau đó install Affinity trong terminal: $ sudo apt-get install affinity

Để chạy Launch AWN bạn vào Applications > Accessories > Avant Window Navigator. Để config tools có thể access thông qua System > Preferences > AWN Manager. Bạn cũng có thể install Leopard Color Schemes or hoặc tạo thêm theo chính cách của bạn như trong screenshoots. Vào System > Preferences > Awn manager. Chọn themes tab, chọn Add button. và chọn Select this theme. Và click vào theme này trong Themes tab and Apply. Bạn cũng có thể lôi và thả những items để tạo launchers.

Để thực hiện với các distributions khác bạn cần tìm các gói của AWN hoặc compile từ sources. Homepage: https://launchpad.net/awn

Here is a screenshot of AWN:

10.2 SimDock

Bạn có thể down file .deb và cài đặt tại Homepage: http://sourceforge.net/projects/simdock/

Screenshot of Simdock:

11.1 Pidgin Plugin for Avant-Window-Navigator

Bạn Extract pidgin-awn.so từ archive tại ~/.purple/plugins. Tạo một launcher cho Pidgin on AWN, right click tại Pidgin tray icon và chọn Plugins. Enable AWN plug in.

11.2 Pidgin OSX Theme

Extract theme archive(s) trong thư mục mà bạn chứa file ban đâu. Bằng quyền root ($ sudo nautilus), chuyển “pidgin” folder đến /usr/share/pixmaps. Viết Overwrite lên file đã có sẵn. Và bạn đã install the OS X Theme cho Pidgin

15 Mozilla Firefox

15.1 Firefox Extensions

Mở Add ons Window, Click Tools > Add ons, kéo và thả (drag & drop) các file .xpi files vào Extensions window. Sau đó click “Install”. Click “Use Add on”. Restart Firefox.

15.2 Safari Firefox Theme

Mở Add ons window. Kéo và thả (Drag & drop) các .jar files vào Themes window. Sau đó click “Install” và Click “Apply Theme”. Restart Firefox.

Sau đó bạn sẽ thấy FireFox trông như thế này:

// Thông tin còn sẽ được update về các phần như nếu được yêu cầu thêm: ^ - ^

13 Mac OS X System Sounds

14 iTunes Media Player Skin

16 Wallpapers

May 04


Ngảy nào !

May 04
Join the forum discussion on this post


Có ai chia sẽ giùm tui làm sao để kiểm soát 3 sự kiện sau khi biến thành tí hon, thành ếch và Odin được không? Trả lời bên 4rum nha ? cảm ơn …







May 03


Ngày 9/4/2008, Microsoft đã chính thức ra mắt bộ giải pháp phần mềm hệ thống mới nhất tại Việt Nam gồm Windows Server 2008, Visual Studio 2008 và SQL Server 2008.

Lễ ra mắt có sự tham gia của ông Kenvin Turner, tổng giám đốc điều hành (COO) Microsoft và hơn 3.000 học sinh, sinh viên đến từ các trường ĐH, CĐ và trung tâm đào tạo CNTT ở Hà Nội. Đây là sự kiện mang tính toàn cầu của Microsoft trong năm 2008 nhằm quảng bá cho nhóm giải pháp. Cả 3 sản phẩm Windows Server 2008, Visual Studio 2008 và SQL Server 2008 đều hướng tới việc phục vụ và tối đa hóa giá trị sáng tạo của những người quản trị hệ thống, chuyên gia công nghệ, các nhà phát triển cùng những đối tác. “Khẩu hiệu “Heroes Happen Here” được sử dụng nhằm tôn vinh những người làm việc đằng sau, gần như không bao giờ lộ diện để phát triển những dịch vụ CNTT phong phú như hiện nay” - vị tổng giám đốc của Microsoft phát biểu khai mạc lễ giới thiệu sản phẩm.

Tổng giám đốc điều hành Microsoft, ông Kenvin Turner.

Nền tảng công nghệ mới

Yếu tố đặc trưng gắn kết 3 sản phẩm Windows Server 2008, Visual Studio 2008 và SQL Server 2008 thành “bộ giải pháp triệt để” được ông Kevin Turner gói gọn trong 4 yếu tố: bảo mật, khả năng ảo hóa, phát triển trên môi trường web và kỹ năng xử lý thông minh. Hệ điều hành Windows Server 2008 được thừa kế toàn bộ ưu điểm của các tiền nhiệm, đồng thời bổ sung thêm những công nghệ bảo mật mới như Network Access Protection, Federated Rights Management và Read-Only Domain Controller. Bên cạnh đó là những công cụ quản trị hệ thống và dò bắt lỗi (diagnostics) mới nhằm giảm chi phí duy trì hệ thống.

Ảo hóa (Virtualization) được nhắc đến nhiều trong bài giới thiệu 30 phút của phó tổng giám đốc Microsoft. Công nghệ này cho phép “chia” một tài nguyên vật lý của hệ thống (máy chủ, hệ điều hành, ứng dụng hoặc hệ thống lưu trữ) thành nhiều tài nguyên logic khác nhau hoặc “gộp” sức mạnh của nhiều tài nguyên thực tế thành một tài nguyên logic duy nhất. Vì sao Visual Studio 2008 lại quan trọng như vậy với ngành công nghiệp ảo hóa? Theo chuyên gia của Microsoft phân tích thì “Chỉ 5% các máy chủ khu vực châu Á được chạy trên hệ điều hành ảo hóa. Điều đó có nghĩa là các tổ chức/doanh nghiệp đang tốn rất nhiều công sức, thời gian và tiền bạc cho các hệ thống máy chủ dạng vật lý. Như vậy, thay vì dành tiền bạc, công sức và thời gian cho việc sáng tạo và phát triển những cái mới người ta lại phải sử dụng nguồn lực để duy trì những hệ thống cũ này. Với phần mềm quản lý của Microsoft, cho phép nhà quản trị có thể quản lý các máy ảo tựa như các máy chủ có thật”.

Nhấn mạnh vào khả năng quản lý hệ thống của Microsoft System Center - giải pháp quản lý hạ tầng tổng thể - ông Turner đã dẫn lời của phó chủ tịch hãng Gartner, Tim Bittman, rằng: “Ảo hóa nếu không có một công cụ quản lý tốt thì thà không dùng còn hơn”. Kỹ năng xử lý thông minh (Business Intelligence) được coi như đặc thù vượt trội của SQL Server 2008 với khẩu hiệu “Dữ liệu của bạn, bất cứ đâu và khi nào”. Sản phẩm sẽ được tung ra thị trường quý 2/2008 sẽ hoạt động với bất cứ loại dữ liệu nguồn nào, cho phép quản trị thiết lập cấu hình để dữ liệu cần thiết đến chính xác người có quyền yêu cầu.

Bộ Visual Studio 2008 được đưa ra với 3 dòng sản phẩm: VS Team System 2008 dành cho nhóm phát triển, VS Professional and Standard cho người dùng cá nhân và bộ rút gọn VS Express Edition miễn phí cho người mới học (entry-level). Ngôn ngữ lập trình mới là LINQ dựa trên cơ sở tập hợp và mở rộng của Visual Basic và C#. LINQ có nhiệm vụ đặc biệt cho những ứng dụng về cơ sở dữ liệu, cho phép người dùng tùy biến dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau một cách trơn tru. Nói chung, bộ công cụ phát triển ứng dụng mới của Microsoft cho phép tạo dựng ứng dụng trên nhiều nền tảng Windows, Web hoặc .NET Framework. Với những ứng dụng web, Visual Studio 2008 hỗ trợ ứng dụng các công nghệ ASP.NET, AJAX hiện tại và cả nền tảng Silverlight dự kiến được “trình làng” cuối năm 2008.

Đích nhắm tại Việt Nam: Cộng đồng phát triển

Với 8 chương trình thảo luận, cuộc trình diễn sản phẩm của Microsoft thu hút khoảng hơn 3.000 sinh viên, học viên. Đây là điểm đặc biệt của sự kiện tại Việt Nam bởi bộ sản phẩm mới được ứng dụng cho môi trường doanh nghiệp (Enterprise). Tuy nhiên, với những thị trường đang phát triển như Việt Nam, việc “gây ấn tượng” cho giới lập trình viên và phát triển ứng dụng được các chuyên gia đánh giá là đem lại hiệu quả tốt và lâu dài hơn so với giới doanh nghiệp.

“Với 7 tỷ USD chi cho việc nghiên cứu và phát triển hàng năm, chúng tôi tự hào rằng khó có thể tập đoàn công nghệ nào có được ưu thế đó”, ông Kevin Turner, tổng giám đốc điều hành (COO) Microsoft, phát biểu tại lễ ra mắt. Song song với những hoạt động quảng bá tính năng sản phẩm mới, một loạt chương trình nhắm tới cộng đồng được triển khai. Đại diện Microsoft và hội Tin Học Việt Nam (VAIP) đã có cuộc đối thoại với đại diện của 40 trường ĐH, CĐ khu vực phía Bắc và miền Trung. Nội dung chủ yếu nhằm cung cấp thông tin và định hướng công nghệ mới của Microsoft, trao đổi về mô hình đào tạo, hoạt động và kinh nghiệm để thúc đẩy cơ hội hợp tác đào tạo nghiên cứu trong việc phát triển nguồn lực CNTT tại Việt Nam.

“Sinh viên đi học thì phải có phần mềm để lập trình. Cơ sở vật chất tại các trường ĐH hiện nay đã có những máy tính rất mạnh rồi. Chúng tôi sẽ cung cấp phần mềm có bản quyền để các bạn thực hành”, ông Lê Thanh Hải, cố vấn công nghệ của Microsoft khối trường ĐH - CĐ, nói. “Những kiến thức được trau dồi tại trường học hầu hết là những kiến thức căn bản, nền tảng để các bạn sáng tạo sau này. Còn việc làm quen với phần mềm là kỹ năng để có thể làm việc được ngay sau khi ra trường”.

Theo chương trình hợp tác, Microsoft sẽ cung cấp miễn phí chương trình MSDN Academic Alliance trong vòng 3 năm thông qua đăng ký tại hội thảo vào website (http://www.msdnAA.net). Chương trình gồm nhiều phần mềm như Visual Studio Team System, hệ điều hành Windows Server, Windows Vista và các phần mềm phục vụ giảng dạy dành cho giảng viên và sinh viên thuộc các khoa CNTT, Toán Tin, Kỹ Thuật, Toán. Nếu in thành đĩa, bộ sản phẩm này được bán với giá khoảng 800 USD/bộ. Microsoft Việt Nam cũng phối hợp với ĐH Bách Khoa Hà Nội hoàn tất 4 bộ giáo trình dành cho những sản phẩm mới gồm: .NET Framework 3.5, Visual Studio 2008, Visual C# 2008 và SQL Server 2008. Ngay sau khi hội thảo kết thúc, khoảng 60 giảng viên từ 30 trường ĐH, CĐ sẽ được tham gia khóa đào tạo ngắn hạn về cơ sở dữ liệu mới tại ĐH Bách Khoa Hà Nội.







May 03

Hiện nay trong cộng đồng Linux, hai cái tên Compiz và Beryl không xa lạ - đây là 2 lớp vỏ ngoài bóng bẩy của hệ điều hành mã nguồn mở này. Vẻ đẹp cuả chúng có thể tạo cân bằng cho cuộc đua giao diện giữa Linux và Windows Vista – Aero.

Khi mới xuất hiện, Compiz như một quả bom tấn cho cộng đồng Linux lúc bấy giờ. Nó như một lớp vỏ ngoài bóng bẩy thay thế cho giao diện đơn điệu vốn có của Linux. Với sự ổn định và các hiệu ứng đẹp, Compiz nhanh chóng trở thành một phần mềm không thể thiếu trong các phiên bản Linux.

Beryl được biết đến như một bản biến thể cuả Compiz. Với các hiệu ứng đặc sắc vượt trội hơn Compiz, cộng với bộ giao diện Emerald tuyệt vời đã khiến lớp vỏ ngoài của Linux đẹp hơn bao giờ hết. Tuy vượt trội hơn Compiz về nhiều mặt, nhưng Beryl lại không có được sự ổn định như Compiz. Do đó, Beryl được các nhà phát hành xếp vào phần mềm tùy chọn cho các phiên bản Linux của họ. Dù vậy, Beryl vẫn chiếm được cảm tình của nhiều người dùng và được sử dụng rộng rãi. Do các hiệu ứng của Compiz vẫn có trong Beryl nên bài viết này sẽ tập trung vào Beryl nhiều hơn.

BERYL – BỘ HIỆU ỨNG SẶC SỠ

Application Window Switcher

Nếu bạn cảm thấy thích thú khi chuyển đổi qua lại các cửa sổ (Alt + Tab) trong Window Vista với Aero thì chắc chắn Beryl sẽ làm bạn hài lòng. Beryl có 3 dạng switcher.

Dạng 1: Wall Switcher

Để sử dụng hiệu ứng này, chúng ta cần ấn tổ hợp phím Alt + Tab. (hình 1)

Dạng 2: Ring Switcher

Hiệu ứng này cũng gần giống như khi dùng Alt + Tab trong Windows Vista với Aero, nhưng trong Linux, bạn sẽ thấy các cửa sổ xoay theo vòng tròn.

Để sử dụng hiệu ứng này, ấn tổ hợp phím Super Key + Tab. (hình 2)

Dạng 3: Window Picker

Đây là một hiệu ứng rất đặc sắc và hữu dụng của Compiz và Beryl. Khi rê chuột về góc trên bên phải màn hình thì tất cả các cửa sổ đang mở trong tất cả các workspace sẽ được thu nhỏ và xếp ngay ngắn cho người dùng chọn lựa.

Desktop Switcher

Đối với người dùng Linux, khái niệm nhiều workspace không có gì xa lạ. Nó giúp cho người dùng thuận tiện trong khi làm việc với nhiều ứng dụng. Beryl đã thổi vào Linux nhiều phương thức chuyển đổi workspace mới lạ làm cho người dùng thích thú, ví dụ Desktop Cube: người dùng sẽ chuyển đổi qua lại các workspace dưới hình dạng một khối hình hộp 3D. Để sử dụng hiệu ứng này, chúng ta làm như sau: ấn và giữ tổ hợp phím Ctrl + Alt, sau đó ấn chuột trái và rê để xoay khối hộp.

Desktop Wall

Đây là hiệu ứng mặc định trong Compiz, nhưng nếu muốn dùng trong Beryl, chúng ta cần phải vào Beryl Setting Manager -> General Options -> Shortcuts -> Desktop Cube -> Biding, trong đó chọn phần Unfold Cube và gán tổ hợp phím cho nó.

Xem trước các ứng dụng đang thu nhỏ

Đây là một tiện ích hữu ích. Nó giúp người dùng có thể xem nội dung các cửa sổ đang trong chế độ minimize mà không cần phải bật các cửa sổ đó lên. Đây là một trong các hiệu ứng rất hữu ích cho người dùng, giúp tiết kiệm thời gian khi làm việc với nhiều cửa sổ.

Để dùng hiệu ứng này, chỉ việc rê chuột vào các cửa sổ đang trong chế độ Minimize và đợi khoảng 1 giây.

Hiệu ứng trong suốt

Chắc hẳn bạn sẽ rất thích thú khi xem hiệu ứng trong suốt trong Aero. Bạn cũng ngạc nhiên không kém khi thấy Beryl đảm nhiệm xuất sắc hiệu ứng này. Chỉ cần để chuột vào cửa sổ muốn áp dụng hiệu ứng, sau đó ấn và giữ Alt rồi dùng nút cuộn chuột (scroll) để tăng, giảm độ trong suốt của cửa sổ đó.

Cửa Sổ 3D

Đây là một trong các hiệu ứng đặc sắc của Beryl khiến nhiều người thích thú. Bạn chỉ có thể thấy được hiệu ứng này khi dùng hiệu ứng 3D Cube, lập tức các cửa sổ đang mở sẽ nổi lên thành 1 cửa sổ 3D.

Nhóm các cửa sổ làm việc

Đây là một tiện ích hữu ích khác của Beryl, giúp người dùng dễ kiểm soát các cửa sổ làm việc của mình. Chỉ việc nhóm các cửa sổ lại với nhau, người dùng có thể kéo, thả một nhóm các cửa sổ cùng một lúc một cách dễ dàng.

Để nhóm các cửa sổ, làm như sau:

1/ Chọn từng cửa sổ xong, ấn tổ hợp phím Super Key + S để đánh dấu các cửa sổ cần nhóm; hoặc ấn và giữ Super Key rồi dùng chuột quét tất cả các cửa sổ muốn nhóm lại.

2/ Ấn tổ hợp phím Super Key + G để nhóm lại. Muốn rã nhóm thì ấn Super Key + U.

EMERALD – BỘ QUẢN LÝ GIAO DIỆN TUYỆT VỜI

Đi song hành với Beryl là bộ quản lý giao diện tuyệt vời Emerald. Emerald cho phép người dùng tùy biến giao diện của cửa sổ làm việc, đồng thời cung cấp nhiều mẫu giao diện rất đẹp cho người dùng lựa chọn.

Compiz Fusion: Sự thay thế hoàn hảo

Hiện nay, Compiz và Beryl đã không còn được phát triển tiếp nữa vì 2 nhóm phát triển của Compiz và Beryl đã bắt tay nhau cùng phát triển một phiên bản hợp nhất nhằm có được sự ổn định của Compiz và vẻ hào nhoáng cuả Beryl: Compiz Fusion. Tuy đang trong giai đoạn phát triển nhưng Compiz Fusion hứa hẹn sẽ là một phần mềm sáng giá góp phần tạo nên sự lộng lẫy cho Linux.

PHỤ LỤC:

Compiz/Beryl và Aero

Tuy có các hiệu ứng sặc sỡ không thua gì Aero của Windows Vista nhưng Compiz/Beryl lại đòi hỏi cấu hình nhẹ hơn hẳn: Theo trang chủ của Beryl (http://wiki.beryl-project.org/wiki/Beryl_FAQ) thì Beryl có thể chạy tốt trên máy có GeForce 3/i855/Radeon 7500, RAM 256MB và tốc độ 1.2GHz. Riêng với tác giả, mặc dù máy dùng mainboard chipset 915GM, card đồ hoạ tích hợp 128Mb (không đủ để chạy Aero) nhưng lại có thể chạy tất cả các hiệu ứng của Beryl khá tốt.

Super Key

Đọc bài viết, nhiều bạn sẽ thắc mắc phím Super Key là phím gì? Thật ra, phím Super Key chính là phím Windows trên PC, phím Apple trên Macintosh và là phím Amiga trên Amiga.

Nếu bạn ấn nút Super Key mà không có tác dụng? Trước hết bạn vào phần Keyboard, sau đó chọn tab Layout Options, xuống phần Alt/Win Key Behaviour, chọn dòng Super is mapped to the Win-keys.

May 03

Một số thành phần chính của hệ thống Linux

Cập nhật: 08/04/2008 09:45


Trong bài này chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc một kiến thức cơ bản nhất, đó là các thành phần chính của hệ thống Linux. Ngoài ra là một số phím tắt thông dụng và các lệnh cơ bản được sử dụng trong Linux.

Một số thành phần chính của hệ thống Linux

- GNOMEKDE là hai giao diện đồ họa được sử dụng nhiều nhất trên các hệ thống Linux.

- Terminal: dùng để thực thi các dòng lệnh, giống với command promt của hệ thống Windows

- Root: tài khỏan quản trị trên hệ thống Linxu tương tự như tài khỏan Administrator trên Windows.

- Panel: khung điều khiển với nhiều chức năng thường xuất hiện dưới đáy của màn hình.

- SU (switch user): khi đăng nhập hệ thống với user thường chúng ta có thể sử dụng lệnh su để chuyển qua quyền root khi cần tiến hành các lệnh và dịch vụ cần thực hiện dưới quyền này, gần giống với lệnh runas trên hệ thống Windows.

- Man page: trang hướng dẫn.

itGatevn_2008040808_Linux_01.jpg
GNOME

itGatevn_2008040808_Linux_02.jpg
Các thành phần chính của Desktop

itGatevn_2008040808_Linux_03.jpg
Terminal (cửa sổ lệnh)

Một số lệnh cơ bản trên hệ Thống Linux

Lệnh Mô tả
/ Root directory.
./ Current directory.
../ Parent directory.
Cat Hiển thị nội dung tập tin. Sử dụng: cat <filename>
Cd Chuyển thư mục,sử dụng : cd <directory_name>
Cp Copy file/folder ,sử dụng : cp <source_filename><destination_filename>
echo $PATH xem các biến đường dẫn hiện tại.
export Xem các biến môi trường.
history Xem các lệnh đã được thực hiện ví dụ: history 10 là liệt kê 10 lệnh được sử dụng gần nhất.
ifconfig xem cấu hình TCP/IP (như ipconfig trên Windows).
Kill kết thúc tiến trình: kill <PID>
ls Liệt kê các file và folder của thư mục: ls <directory_name>
Mkdir Tạo thư mục: mkdir <directory_name>
mv Di chuyển thư mục hoặc file: mv <current_filename><new_filename>
passwd Thay đổi password.
ps Xem các tiến trình đang chạy trên hệ thống.
pwd Hiển thị thư mục hiện hành.
rm Xóa file :: rm <filename>
rmdir Xóa thư mục : rmdir <directory_name>
shutdown Tắt hệ thống
touch Tạo file: touch <filename>

Một số phím tắt thông dụng

Ctrl+Alt+Backspace: tắt giao diện đồ họa đang sử dụng và trở ra màn hình log in.
Ctrl+Alt+Delete: Shut down và reboot hệ thống.
Ctrl+D: log out khỏi một terminal hay console session.
Ctrl+Alt+Fx: Chuyển màn hình.

May 03

Bất kỳ hệ thống nào tham gia vào mạng Internet cũng cần đến sự hỗ trợ của các phần mềm antivirus nhằm bảo đảm tính an toàn. Với các hệ điều hành Microsoft Windows, chúng ta đã rất quen thuộc và thành thạo với Norton, McAfee, Trend Micro…Còn với Ubuntu, những phần mềm antivirus đang được xếp hàng đầu có thể kể đến là AVG Free, Avast, ClamAV…

itGatevn_2008040108_Ubuntu_01.jpgAVG AntiVirus Free

AVG Free là một trong những giải pháp antivirus miễn phí nổi tiếng nhất dành cho người sử dụng ở phạm vi gia đình (home users). Với những tính năng như tự động cập nhật cơ sở dữ liệu virus một cách nhanh chóng, sử dụng đơn giản, chiếm ít tài nguyên hệ thống, tự động phát hiện virus… phần mềm này đã và đang trở thành một công cụ an toàn và tin cậy đối với các hệ thống máy tính. Bài viết hướng dẫn các bước cài đặt, cấu hình và sử dụng AVG Free trên Ubuntu-7.04. Ngoài ra, bạn đọc cũng có thể hiểu được cách thức cài đặt và sử dụng avast!ClamAV.

Để cài đặt AVG Free, chúng ta thực hiện các bước như sau:

1. Download AVG Antivirus Free Edition (.deb) về Desktop của máy tính Ubuntu.

Thực hiện thao tác này bằng cách truy cập vào địa chỉ: http://free.grisoft.com, chọn tab Downloads. Ở mục Free Downloads, chọn AVG Anti-Virus Free Edition 7.5 for Linux. Cuối cùng, chọn Debian based distributions (Debian, Ubuntu).

Sau khi hoàn thành thao tác download, file cài đặt avg75fld-r49-a1130.i386.deb với kích thước ~ 41.9 MB sẽ được lưu về Desktop của máy tính theo mặc định. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi vị trí lưu trữ từ Desktop sang một thư mục bất kỳ trên hệ thống của mình ngay khi trình duyệt bắt đầu download.

2. Cài đặt AVG Free vào hệ thống

Di chuyển vào thư mục chứa file cài đặt:

root@ln01:~# cd /home/tthai/Desktop

Tiến hành cài đặt với lệnh:

root@ln01:/home/tthai/Desktop# dpkg -i avg75fld-r49-a1130.i386.deb

3. Cấp quyền để các user trên Ubuntu có thể cập nhật virus

Cấp quyền thực thi để các user có thể chạy được chương trình AVG Free Update:

root@ln01:~# chmod 777 /opt/grisoft/avg7/bin/avgupdate

Cấp quyền ghi để cho phép chương trình AVG Free Update có thể đọc ghi được các file cần thiết trong thư mục /opt/grisoft/avg7/var/run:

root@ln01:~# chmod 777 /opt/grisoft/avg7/var/run

Cấp quyền ghi để cho phép chương trình AVG Free Update có thể đọc ghi được các file cấu hình cũng như download các bản cập nhật virus về thư mục /opt/grisoft/avg7/var/update:

root@ln01:~# chmod 777 /opt/grisoft/avg7/var/update

Đến bước này, bạn đã hoàn thành việc cài đặt và có thể bắt đầu với AVG Free bằng cách vào menu Applications > Accessories > AGV for Linux Workstation.

itGatevn_2008040108_Ubuntu_02.jpg

Nhấn nút OK trên cửa sổ License để bắt đầu sử dụng chương trình antivirus này.

Màn hình chính của AVG Free tương tự như dưới đây. Bạn có thể kiểm tra virus (test), xem kết quả kiểm tra (test results) và cập nhật cơ sở dữ liệu virus (update) bằng cách thực hiện các chức năng Test, Test ResultsUpdate.

itGatevn_2008040108_Ubuntu_03.jpg

Bên cạnh đó, nếu muốn cấu hình để AVG Free tự động kiểm tra và cập nhật virus, chúng ta vào menu Service > Program settings.

  • Để hệ thống kiểm tra virus tự động, bạn thay đổi các thông số thích hợp ở mục Scheduler > Test schedule.

itGatevn_2008040108_Ubuntu_04.jpg

Tại cửa sổ này, bạn chỉ định thời gian kiểm tra hàng ngày, hàng tuần, hay hàng tháng và vào lúc mấy giờ. Đồng thời, cũng cần chỉ định những thư mục nào sẽ được tự động kiểm tra.

  • Để hệ thống cập nhật virus tự động, bạn thay đổi các thông số thích hợp ở mục Scheduler > Update schedule.

itGatevn_2008040108_Ubuntu_05.jpg

Tại cửa sổ này, bạn chỉ định thời gian cập nhật hàng ngày, hàng tuần, hay hàng tháng và vào lúc mấy giờ.

Clam AntiVirus - ClamAV

Bên cạnh AVG AntiVirus Free, bạn còn có ClamAV. Đây cũng là một chương trình antivirus dành cho các hệ điều hanh Unix/Linux. Mục đích chính của trình này là tích hợp với Mail server để thực hiện chức năng attachment scanning. Đồng thời, bạn cũng có thể sử dụng ClamAV cho mục đích phòng chống virus nhờ vào các cơ sở dữ liệu virus đi kèm.

Để cài đặt ClamAV, bạn thực hiện các lệnh sau:

root@ln01:~# apt-get update
root@ln01:~# apt-get install clamav

Hệ thống tự động dò tìm và chuẩn bị các thư viện liên quan. Khi dòng “Do you want to continue [Y/n]?” xuất hiện, bạn bấm phím Y để bắt đầu tiến trình cài đặt.

Khi các bước cài đặt đã hoàn tất, ClamAV sẽ chạy ngầm trên Ubuntu. Để quét virus tại một thư mục, bạn thực hiện lệnh:

root@ln01:~# clamscan -r /đường-dẫn-đến-thư-mục

Ví dụ: root@ln01:~# clamscan -r /mydir

avast! AntiVirus

Bạn cũng có thể lựu chọn avast! để phục vụ khả năng phòng chống virus trên hệ thống Ubuntu của mình.

Thao tác cài đặt rất đơn giản, bạn download gói cài đặt về thư mục hiện thời trên máy tính Ubuntu bằng lệnh:

root@ln01:~# wget http://files.avast.com/files/linux/avast4workstation_1.0.8-2_i386.deb

Tiếp theo, chạy lệnh cài đặt:

root@ln01:~# dpkg -i ./avast4workstation_1.0.8-2_i386.deb

Sau khi hoàn thành các bước cài đặt, bạn cần vào website http://www.avast.com/eng/download-avast-for-linux-edition.html, nhập địa chỉ email cùng thông tin liên quan đến cá nhân (tên, địa chỉ) để đăng ký một dãy khóa (registration key) nhằm kích hoạt phần mềm avast! trước khi sử dụng. Sau khi đăng ký xong, dãy khóa sẽ được gửi về địa chỉ email của bạn.

Cấu hình và sử dụng

Đưa avast! vào menu Applications bằng thao tác sau:

root@ln01:~# cd /usr/lib/avast4workstation/share/avast/desktop
root@ln01:/usr/lib/avast4workstation/share/avast/desktop# ./install-desktop-entries.sh install

Từ menu Applications > Accessories, bạn chọn avast! Antivirus. Trong màn hình Registration hiện ra, bạn sao chép dãy khóa đã đăng ký ở trên trong hộp thư của mình vào và bấm nút OK.

itGatevn_2008040108_Ubuntu_06.jpg

Trong màn hình chính của avast!, bạn dễ dàng thực hiện các thao tác phòng chống virus cho hệ thống Ubuntu của mình.

itGatevn_2008040108_Ubuntu_07.jpg

Trước khi sử dụng avast!, bạn nên cập nhật cơ sở dữ liệu virus bằng cách bấm nút Update database. Thao tác này nhằm đảm bảo avast! trên máy tính của bạn đã cập nhật cơ sở dữ liệu virus đến ngày hiện tại.

avast! cho phép bạn lựa chọn thư mục quét virus ở ba trường hợp: Home directory, Entire systemSelected folders. Bạn có thể thực hiện thao tác quét từ cấp độ đơn giản (Quick) đến phức tạp (Thorough).

Ngoài ra, menu Tools > Preferences cho phép bạn thay đổi cấu hình và tùy biến để avast! hoạt động một cách phù hợp với sở thích cá nhân của mình.

Trên đây là những chỉ dẫn nền tảng và căn bản nhất về cách tiếp cận với các phần mềm antivirus trên Ubuntu. Hy vọng rằng bài viết sẽ đem đến cho bạn đọc những gợi ý đơn giản và dễ hiểu để có thể thực thi cài đặt và cấu hình trên hệ thống Ubuntu của mình.

May 02

CÀI ĐẶT HỆ ĐIỀU HÀNH

LINUX REDHAT

8.0

1. Một số điều lưu ý trước khi cài:

Để cài RedHat 8.0 chạy trơn tru thoải mái, bạn cần có hệ thống PII, 64MB Ram trở lên, và phân vùng ổ cứng dành để cài Linux cần khoảng 2GB trở lên. Tuy nhiên không có gì cản trở bạn cài Linux trên một hệ thống có cấu hình thấp hơn, nhưng khi đó bạn chỉ có thể chạy với các ứng dụng hạn chế trên hệ thống.

· Nên tìm hiểu thông số cấu hình của hệ thống trước khi cài đặt. Điều này rất quan trọng, giúp bạn thuận lợi trong quá trình cấu hình hệ thống sau khi cài đặt. Bạn sẽ phải lựa chọn cho đúng thông số của các linh kiện phần cứng trong quá trình cấu hình hệ thống như: loại card màn hình, loại màn hình( tần số quét ngang, dọc), card mạng, card âm thanh. v.v.

· Cần chuẩn bị phân vùng đĩa còn trống để cài Linux. Linux cần tối thiểu hai phân vùng là Linux Native (ext3) và Linux swap. Đơn giản, bạn có thể dùng Partition Magic để phân chia đĩa.

§ Một partition là Linux native ext3. Cần khoảng 2GB trở lên để cài Linux, bao gồm cả KDE và Gnome, các tiện ích đồ họa, multimedia, và lập trình. Tối thiểu bạn cần 400MB và cài toàn bộ là 4,5GB.

§ Một partition là Linux swap, là phân vùng tráo đổi của Linux dành cho việc sử dụng bộ nhớ ảo, làm không gian trao đổi. Thông thường, dung lượng bộ nhớ ảo tối ưu sẽ gấp đôi dung lượng bộ nhớ RAM của hệ thống.

2. Bắt đầu cài đặt:

Cách đơn giản và thông dụng nhất để cài Redhat Linux là cài đặt từ bộ CDROM:

Khởi động hệ thống từ bộ đĩa CD cài đặt ( CD số 1), và nhấn Enter từ dấu nhắc khởi động để mặc định cài đặt theo chế độ đồ hoạ. Chương trình cài đặt sẽ tự động dò thông số của bàn phím, chuột, card màn hình, màn hình và sau đó đi vào quá trình cài đặt. Thông qua từng bước wizard để bạn chọn các thông số về hệ thống như bàn phím, chuột, ngôn ngữ trong quá trình cài đặt, giờ hệ thống.

a. Chọn kiểu cài đặt:

- Personal Desktop: dành cho người mới bắt đầu với Linux hoặc cho những hệ thống desktop cá nhân. Chương trình cài đặt sẽ chọn lựa những gói phần mềm cần thiết nhất cho cấu hình này. Dung lượng đĩa cần cho kiểu cài đặt này chiếm khoảng 1,5GB, bao gồm cả môi trường đồ hoạ.

- WorkStation: dành cho những trạm làm việc với chức năng đồ hoạ cao cấp và các công cụ phát triển.

- Server: cài đặt hệ thống đóng vai trò máy chủ như webserver, ftpsever, SQL server.v.v.

- Custom: đây là lựa chọn linh hoạt cho bạn trong quá trình cài đặt. Bạn có thể chọn các gói phần mềm, các môi trường làm việc, boot loader tuỳ theo ý bạn.

b. Thiết lập phân vùng cài Linux:

Đây là quá trình nhạy cảm nhất và nguy hiểm nhất trong quá trình cài đặt, vì chỉ cần bất cẩn chọn sai thì dữ liệu trên ổ cứng của bạn có thể bị mất sạch.

Chức năng “automatic partition” sẽ giúp bạn tự động tạo các phân vùng cho Linux. Hãy cẩn thận nếu bạn chọn option “remove all partition on this system”, vì như thế tất cả các phân vùng trên ổ cứng của bạn đều bị xoá. Option “remove all Linux partition on this system” sẽ chỉ xoá các phân vùng của Linux mà thôi

Ở đây, để thuận tiện thì bạn có thể dùng Partition Magic để phân chia đĩa trước. Tới giai đoạn này chỉ là công việc tạo định dạng cho phân vùng cài đặt mà thôi. Tuy nhiên bạn vẫn có thể thao tác phân chia phân vùng cài đặt dễ dàng với Disk Druid.

Thông thường, bạn nên chọn Manually partition with Disk Druid ” để tạo các phân vùng:

· Một phân vùng chứa mount point là “/”, có kiểu file hệ thống là Linux Native ext3.

· Một phân vùng swap cho Linux, kiểu của phân vùng này là Linux swap, kích thước tối ưu là gấp đôi dung lượng RAM của hệ thống hiện tại.

Các button trên màn hình giao diện cho phép bạn thao tác phân chia và định dạng phân vùng. Nút New, Delete để tạo mới hay xoá một phân vùng. Nút Edit để định dạng phân vùng đó, có kiểu là gì (ext3, swap, fvat…), qui định lại kích thước, là thư mục gì trong hệ thống phân cấp bộ nhớ.

Bạn có thể Reset quá trình thao tác nếu chưa thoả mãn yêu cầu của mình, chưa có một thay đổi nào được thực hiện cho đến khi bạn hoàn thành công việc với Disk Druid.

c. Cách quản lý đĩa trong Linux:

Trong cấu trúc cây thứ bậc của Linux, cao nhất là “/”, dưới đó là /boot, /etc, /root, /mnt .v.v.

Đối với Linux, mọi thiết bị phần cứng đều được coi như file hoặc thư mục nằm trong hệ thống phân cấp cây thư mục. Chẳng hạn hệ thống của bạn có hai ổ cứng thì đĩa cứng thứ nhất là /dev/had, ổ cứng thứ hai là /dev/hdb. Trong cùng một ổ dĩa, các hệ thống file được chia thành các phân vùng khác nhau. Một ổ cứng có 4 phân vùng chính (primary) được đánh số thứ tự từ 1 đến 4. tương ứng với ổ cứng đầu tiên sẽ là hda1, hda2 .v.v, phân vùng thuộc phần mở rộng (extended) được đánh số bắt đầu từ số 5: ví dụ hda5, hda6 …

d. Cài đặt boot loader

Đây là chương trình dùng để khởi động Linux cũng như các hệ điều hành khác (dual boot) khi bạn có nhiều hơn một hệ điều hành được cài trên hệ thống. Grub là boot loader mặc định khi cài RedHat 8.0. Đây là chương trình rất mạnh và uyển chuyển. Grub tự động dò các hệ điều hành hiện có trên hệ thống và thêm vào trong danh sách khởi động. Các tuỳ chọn trên màn hình tương đối dễ hiểu.

Với tuỳ chọn “ configure advance boot loader option” cho phép bạn chọn việc cài grub lên đâu trong ổ cứng:

Nếu chọn Grub để khởi động hệ thống , grub sẽ được cài lên Master boot record ( /dev/hda).

Nếu chọn một chương trình khác để khởi động như system commander chẳng hạn, bạn hãy chọn cài grub lên “first sector of boot partition”. Như vậy, system commander sẽ tự động nhận ra Linux và thêm vào mục nhập khởi động cho Linux.

e. Cấu hình account:

Việc cấu hình acount dùng để thiết lập mật khẩu root và có thể tạo thêm các account khác để log in vào hệ thống khi việc cài đặt hoàn tất.

Tài khoản root là tài khoản có quyền cao nhất trong hệ thống. Bạn có thể cài đặt, cấu hình hệ thống hay làm mọi chuyện một khi đăng nhập vào hệ thống với tài khoản này.

f. Các lưu ý lựa chọn gói phần mềm cài đặt:

Với Redhat 8.0, việc chọn các gói phần mềm để cài đặt được thực hiện rất thuận tiên khi các gói phần mềm được gom lại thành nhóm. Có thể chọn cài các gói phần mềm ngay lúc này các gói cần thiết hoặc có thể cài thêm sau khi hoàn tất cài đặt.

Bạn chọn mục “select individual package” để cài thêm các gói mà mặc định sẽ không cài cho bạn. Ví dụ như mc (Midnight Commander, tương tự NC trong DOS). Sau khi lựa chọn xong, chương trình cài đặt sẽ duyệt các gói phụ thuộc để bạn cài thêm.

Trong suốt quá trình chọn gói phần mềm cài đặt, bạn được thông báo dung lượng cần để cài đặt. Nên chú ý để không vượt quá dung lượng phân vùng mà bạn đã dành cho Linux trong quá trình chọn lựa. Một điều chú ý là bạn nên cài các programming develop và kernerl source, các thư viện lập trình để thuận tiện cho việc sau này cần biên dịch lại nhân hệ điều hành hoặc cài đặt và biên dịch phần mềm và driver cho hệ thống.

g. Cấu hình X

Để làm việc được với giao diện đồ hoạ, bạn cần cấu hình cho X Window. Nếu may mắn, card đồ hoạ và màn hình của bạn sẽ nằm trong danh sách được Linux hỗ trợ. Còn nếu không, cách chắc chắn với loại card đồ họa để chạy được là chọn loại vesa. Về màn hình, Linux sẽ tự dò cho bạn hoặc bạn sẽ cấu hình bằng tay việc chọn tần số quét cho màn hình. Hãy cẩn thận vì quá trình này dễ làm hỏng màn hình và card đồ hoạ của bạn. Đây chính là lý do bạn cần nắm vững thông số của các linh kiện phần cứng.

Nếu không cần Linux tự dò tìm và cấu hình dùm bạn, bạn có thể mở file /etc/X11/XF86Config (hoặc XF86Config-4) để cấu hình bằng tay.

Sau khi nhấn nút test để kiểm tra hệ thống có chạy tốt với chế độ đồ họa chưa, nếu mọi việc suôn sẻ, chúc mừng bạn đã hoàn tất quá trình cài đặt Linux.

Lưu ý về card đồ họa

Mặc dù Linux nhận dạng và hỗ trợ đúng nhiều loại card đồ hoạ được sản xuất trong 2 năm gần đây, sau khi cấu hình, card đồ hoạ vẫn chạy với bus PCI cho dù card đồ họa của bạn là loại AGP, và bạn vẫn chưa tận dụng được các chứng năng đồ hoạ 3D cao cấp của nó. Lý do là các nhà sản xuất linh kiện vì lý do bảo mật và bản quyền nên chưa hỗ trợ cho các nhà phát triển Linux. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nhà sản xuất phần cứng đã bắt đầu hỗ trợ driver cho các linh kiện của mình trên các hệ thống Linux. Chẳng hạn với nhà sản xuất Nvidia, bạn có thể tải driver của nó thông qua www.nvidia.com hoặc ftp://download.nvidia.com/XFree86_40/1.0-3123. Các game 3D chạy với hình ảnh rất mịn màng không thua kém gì trên MS Window sau khi bạn đã cài driver cho hệ thống.

Nguồn: echip